Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

Những học sinh trung học càng học khối lớp lớn càng dễ bị bắt nạt

Một học trò có thể là người có hành vi đe, là nạn nhân của bắt nạt hoặc cả hai. đe học sinh là một dạng của bạo lực học đường, có thể gây ra thương tổn về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, thậm chí là tử vong, và đã trở thành một vấn đề y tế công cộng được quan tâm trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam.

Trên thế giới, mỗi năm có 6 triệu trai trẻ và 4 triệu trẻ gái có hệ trọng trực tiếp đến bạo lực học đường, trên 3,2 triệu học sinh là nạn nhân của đe mỗi năm. Tại Hoa Kỳ, có khoảng 28% học sinh từ 12 - 18 tuổi bị ăn hiếp tại trường học, trong đó 18% học sinh bị xúc phạm, trêu chọc, 18% là nạn nhân của những tin đồn, 5% bị đe dọa và 3% học trò bị bắt làm những điều mà họ không muốn.

Một số nước có khuynh hướng giảm về tỉ lệ bị bắt nạt và có hành vi ăn hiếp người khác như Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh và Nauy. Bên cạnh đó, một số nước như Pháp, Bỉ, Hà Lan có tỉ lệ bị doạ vẫn gia tăng ở cả hai giới. Theo thưa của tổ chức Plan International (PI), khảo sát trên 5 nhà nước châu Á cho thấy học trò 12 đến 17 tuổi bị nạt trong 6 tháng qua nghiêng ngả trong khoảng 28% đến 75% với các hình thức đe thể chất, đe tinh thần và lạm dụng tình dục, trong đó, tỉ lệ bị nạt ở Việt Nam là 71%.

Những học sinh trung học càng học khối lớp lớn càng dễ bị bắt nạt Ảnh minh họa

Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây học trò bị doạ như hăm dọa, đánh đập được chia sẻ phổ quát trên các trang mạng xã hội. Hành vi nạt trong độ tuổi đi học can hệ đến các vấn đề như thành tích học tập kém, hút thuốc lá và thiên hướng lạm dụng rượu tăng, khả năng kiểm soát xúc cảm kém, có nguy cơ tự vẫn tiềm ẩn.

Có mối can dự giữa học trò bị ăn hiếp với các yếu tố:

- Đặc điểm cá nhân chủ nghĩa: hạnh kiểm, học lực, giới tính và khối lớp của học sinh

- Gia đình: nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân của ba má, kinh tế gia đình, học sinh sống chung với ai, mức độ quan tâm của gia đình, mức độ học sinh chứng kiến bạo hành gia đình và mức độ bị người nhà la mắng, đánh đập.

- Môi trường sống: mức độ đánh nhau, cãi nhau tại nơi sinh sống và tồi tầng lớp.

- Nhà trường: mối quan hệ với đay, học trò sống cô lập và chứng kiến bắt nạt tại dài.

Theo một nghiên cứu trên 248 học trò trung học cơ sở tại tỉnh Phú Yên, tỉ lệ học sinh bị doạ là 37,9%. Những nhân tố liên tưởng đến bị nạt ở học sinh là học lực, hạnh kiểm, khối lớp, kinh tế gia đình, tình trạng đánh nhau/cãi nhau và xảy ra các nhợt tầng lớp tại khu vực sống, có chứng kiến ăn hiếp trong trường và mối quan hệ không tốt với thầy cô. Trong đó 3 yếu tố gồm học lực, kinh tế gia đình và tình trạng đánh nhau hoặc cãi nhau tại khu vực sống cần được chú trọng.

Trong nghiên cứu trên, phần lớn học sinh nhận được sự quan hoài từ gia đình, trong đó 64,5% cho là rất quan hoài và 31,1% là quan tâm, có 0,8% cho rằng không được gia đình quan hoài. Trong 12 tháng qua, phần nhiều học sinh không chứng kiến bạo lực gia đình (60,1%), nhưng có tới 51,6% học trò trả lời đã bị người nhà la mắng đánh đập, trong đó 6,8% học trò bị la mắng, đánh đập với mức độ thẳng tắp. Hơn 50% học trò sống trong khu vực có xảy ra đánh nhau hoặc cãi nhau, với mức độ thỉnh thoảng là 43,1% và liền là 8,9%. Một phần nhỏ học trò sống trong khu vực có các tồi từng lớp như cờ bạc, trộm cắp, cướp giật…

Một điều đặc biệt, những học sinh từ khối lớp 7 đến khối lớp 9 trong nghiên cứu này có tỉ lệ bị nạt cao hơn so với học trò lớp 6.học trò có học lực từ khá trở xuống có tỉ lệ bị nạt cao hơn so với học sinh có học lực giỏi.học trò có hạnh kiểm từ khá trở xuống có tỉ lệ bị ăn hiếp cao hơn so với học sinh có hạnh kiểm tốt. Theo định nghĩa, thuộc lòng được thực hành một cách thân thiện, vui vẻ không được xem là nạt, có thể học trò đang trong độ tuổi có sự biến chuyển về mặt tâm lý, những học sinh ở khối lớp lớn hơn dễ mẫn cảm hơn với sự trêu của bạn bè và cho rằng đó là hành vi đe đối với mình.

Những học sinh có học lực kém thường bị bạn bè ghẹo gây khó chịu hoặc ít được để ý gây cảm giác bị xa lánh, đó được xem là những hình thức doạ. Tâm lý chung của các bậc phụ huynh là không muốn cho con em mình chơi với những trẻ sống ở môi trường sống phức tạp, có lẽ nên chi mà những học trò sống ở nơi thường xuyên xảy ra đánh nhau/cãi nhau thường bị nạt hơn. Bên cạnh đó, với những học sinh có điều kiện kinh tế gia đình khá giả, thứ nhất, có thể cách xử sự của các em chưa thích hợp; thứ hai, các em thường mang những đồ vật có giá trị đến lớp, vô hình chung những điều đó đã khiến các em trở thành nạn nhân của nạt trong dài.

Mặc dù mối liên can giữa học trò bị đe với các nhân tố khác về đặc điểm nhà trường là chưa rõ ràng, song vẫn cần sự quan hoài nhiều hơn từ phía nhà trường.Việc học trò nhận định rằng phụ thân đối xử không công bằng có thể phát sinh sự ghen tị, dẫn đến những ứng xử không thích hợp giữa các học sinh với nhau.Bên cạnh đó, tác động từ phương pháp giáo dục có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc bị động đến nhận thức của học sinh, bởi thế việc chọn lọc hình thức xử phạt một cách hợp lý và khoa học là quan yếu.

CN Y tế Công cộng LÊ HUỲNH NHƯ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét